Quy định của Trung Quốc (05/01/2012)Tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm chiên rán
THÔNG BÁO CỦA VĂN PHÒNG QUỐC VỤ VIỆN VỀ VIỆC GIÁM SÁT HÀNH VI SỬ DỤNG CHẤT PHỤ GIA TRONG THỰC PHẨM, THIẾT THỰC TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ GIÁM SÁT CHẤT PHỤ GIA TRONG THỰC PHẨM
Gửi Uỷ ban nhân dân các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; các ủy ban, các cơ quan trực thuộc Quốc vụ viện:
Hiện nay, sử dụng chất phụ gia phi thực phẩm trong kinh doanh, sản xuất thực phẩm và lạm dụng chất phụ gia trong thực phẩm đã trở thành vấn đề nổi cộm ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm. Để giám sát hành vi sử dụng chất phụ gia trái pháp luật, tăng cường hơn nữa việc quản lý, giám sát đối với việc sử dụng chất phụ gia, thiết thực bảo vệ sức khoẻ và an toàn tính mạng cho nhân dân, được sự đồng ý của Quốc Vụ viện, nay ra thông báo sau: I. Tăng cường giám sát hành vi sử dụng chất phụ gia trong thực phẩm 1. Nghiêm cấm sử dụng các chất phụ gia phi thực phẩm. Căn cứ quy định pháp luật liên quan, nghiêm cấm tất cả các đơn vị và cá nhân khi sản xuất thực phẩm sử dụng chất hóa học ngoài chất phụ gia thực phẩm và các chất khác có khả năng nguy hại sức khỏe con người, cấm sử dụng các loại thuốc không được phép trong quá trình trồng trọt, nuôi trồng, gia công, thu mua, vận chuyển nông sản phẩm và các chất khác có khả năng nguy hại sức khỏe con người. 2. Tăng cường kiểm tra, giám sát hành vi sử dụng chất phụ gia thực phẩm. Các khu vực, các ban ngành có liên quan cần phải tăng cường mức độ kiểm tra giám sát , thực hiện mạng lưới hoá hệ thống giám sát, phân công trách nhiệm rõ ràng, khoanh vùng, loại trừ những vùng không bị giám sát quản lý. Thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất thực phẩm nông sản, tổ chức hợp tác kinh tế chuyên nghiệp của nông dân, đơn vị sản xuất kinh doanh thực phẩm nghiêm chỉnh chấp hành chế độ kiểm tra, ghi chép đầy đủ theo quy định của pháp luật, đồng thời coi đây là trọng tâm của việc kiểm tra, giám sát hàng ngày. Thúc đẩy đơn vị sản xuất kinh doanh thực phẩm xây dựng kiện toàn chế độ kiểm tra, tăng cường tần suất tự kiểm tra. Hoàn thiện chế độ giám sát kiểm tra ngẫu nhiên, tăng cường kiểm tra không định kỳ và kiểm tra ngẫu nhiên từng bộ phận, đặc biệt cần phải nhắm vào khâu quan trọng như thu mua sữa tươi, vận chuyển súc vật sống, giết mổ… và bộ phận còn yếu về an toàn vệ sinh thực phẩm như: phân xưởng nhỏ, người buôn bán nhỏ, hàng ăn quy mô nhỏ…, tăng cường mức độ tuần tra và kiểm tra ngẫu nhiên, nâng cao số lần kiểm tra, mở rộng phạm vi kiểm tra. Mở rộng ứng dụng kỹ thuật kiểm nghiệm nhanh để nâng cao năng suất kiểm tra. 3. Nghiêm khắc trừng trị các hành vi sử dụng chất phụ gia trái quy định pháp luật.. Các địa phương, các ngành hữu quan cần phải duy trì tình trạng trấn áp cao, tăng cường tấn công các hành vi vi phạm pháp luật. Đối với hành vi không thực hiện ghi chép, chế độ kiểm tra theo quy định của pháp luật, hoặc ghi không chân thực, không hoàn chỉnh, không chính xác, tẩy xoá sổ sách hoặc không lưu giữ sổ sách đầy đủ, yêu cầu đối tượng vi phạm hoàn thiện trong hạn định. Đối với hành vi cung cấp giấy tờ giả hoặc sửa chữa không đúng quy định, tiến hành yêu cầu ngừng tiêu thụ, sản xuất các sản phẩm có liên quan. Đối với hành vi nhập hàng hoặc kiểm nghiệm các chất phụ gia không theo đúng quy định của pháp luật mà đã tiêu thụ, sử dụng, thực hiện yêu cầu dừng sản xuất hoặc đóng cửa doanh nghiệp; đối với hành vi cố ý sử dụng chất phụ gia trái pháp luật, cần nhanh chóng tiến hành đối chiếu, những sản phẩm chưa được thu hồi và những sản phẩm sử dụng trong quá trình kinh doanh trái pháp luật gây hậu quả cho người sử dụng, thực hiện yêu cầu bồi thường đối với hành vi nguy hại gây nên. Đối với các hành vi nói trên, có thể áp dụng đồng thời truy cứu theo pháp luật và các trách nhiệm có liên quan. Đối với chủ nhà máy sản xuất buôn bán chất phụ gia, những nhân viên tiêu thụ trái pháp luật và những người có trách nhiệm, người có liên quan ở đơn vị sản xuất thực phẩm sử dụng chất phụ gia trái pháp luật đều bị dẫn giải tới cơ quan thực thi pháp luật, nhanh chóng bị xử lý thích đáng theo quy định của pháp luật. Cơ quan có liên quan ban hành những biện pháp cụ thể để trừng phạt hành vi sử dụng chất phụ gia trong thực phẩm trái quy định của pháp luật. 4. Hoàn thiện cơ chế điều tra, xử lý các trường hợp sử dụng chất phụ gia vi phạm pháp luật. Cần phải tăng cường kết hợp giữa xử phạt hành chính và tư pháp hình sự, các cơ quan quản lý có liên quan nếu phát hiện hành vi vi phạm cần nhanh chóng thông báo cho cơ quan công an. Nghiêm cấm hành vi chỉ xử phạt thay cho truy cứu hình sự, có án mà không chuyển cho cơ quan liên quan. Khi phát hiện các đối tượng khả nghi, công an cần nhanh chóng tham gia, kịp thời lập chuyên án điều tra, đối với những vụ án lớn, đối tượng và phạm vi hoạt động liên tỉnh, do Bộ công an trực tiếp tham gia. Các cơ quan liên quan tích cực phối hợp với cơ quan công an trong điều tra, thu thập chứng cứ, cung cấp các tài liệu và các giám định có liên quan, bảo đảm việc xử lý vụ án kịp thời, hiệu quả. 5. Tăng cường xử lý tận gốc hành vi sử dụng chất phụ gia trái pháp luật. Trong những thực phẩm mà nhà nước công bố không được sử dụng chất phụ gia và các chất bị cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi và nước uống, các ban ngành công nghiệp và thông tin, nông nghiệp, kiểm định chất lượng, công thương và giám sát quản lý thực phẩm dược phẩm có liên quan tăng cường giám sát quản lý theo quy định của pháp luật, yêu cầu doanh nghiệp sản xuất cần phải in thêm cảnh báo “cấm dùng trong gia công thực phẩm và thức ăn gia súc” trên nhãn hiệu sản phẩm. Đồng thời xây dựng trung tâm tiêu thụ sản phẩm, thực hiện chế độ mua bán sản phẩm theo đúng nhãn hiệu, chất lượng ghi trên bao bì, nghiêm cấm tiêu thụ cho các đơn vị sản xuất kinh doanh thực phẩm. Tăng cường kiểm tra giám sát đối với nhà máy hóa chất, xí nghiệp sản xuất thuốc thú y và dược phẩm, giám sát doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật. Cần phải giám sát chặt chẽ, tăng cường xử ý hành vi sử dụng chất phụ gia trái quy định pháp luật thông qua phương thức tiêu thụ như các mạng lưới hỗ trợ liên lạc Đối với khu vực trọng điểm như nông thôn, khu vực giao thoa giữa hương trấn, huyện, cần tổ chức kiểm tra thường xuyên đối với những nhà dân cho thuê, kiến trúc tạm thời, các kho hàng, công ten nơ, các xưởng mà doanh nghiệp ngoài thuê để kịp thời phát hiện, xử lý triệt để những “điểm đen” trong sử dụng chất phụ gia, kiên quyết chôn vùi những đường dây tiêu thụ ngầm. II. Quy phạm việc sản xuất sử dụng chất phụ gia thực phẩm 1. Quản lý giám sát chặt chẽ việc sản xuất tiêu thụ chất phụ gia thực phẩm. Cơ quan kiểm tra chất lượng cần phải nghiêm chỉnh chấp hành cấp phép sản xuất chất phụ gia thực phẩm, xử lý nghiêm khắc các doanh nghiệp sản xuất không có giấy phép; tăng cường giám sát hàng ngày ở các khâu trọng điểm trong thu mua nguyên liệu và phụ liệu sản xuất, đôn đốc doanh nghiệp sản xuất nghiêm chỉnh chấp hành tiêu chí liên quan và yêu cầu đảm bảo an toàn chất lượng sản phẩm. Quy phạm các loại phụ liệu trong sản xuất chất phụ gia thực phẩm, nghiêm cấm sử dụng chất phi thực phẩm sản xuất phụ liệu chất phụ gia. Ngành công thương cần phải giám sát người tiêu thụ chất phụ gia thực phẩm, xây dựng và nghiêm túc chấp hành chế độ kiểm tra nhập hàng, trung tâm tiêu thụ sản phẩm, nghiêm khắc xét xử hành vi kinh doanh không có giấy phép và vi phạm pháp luật về việc tiêu thụ chất phụ gia thực phẩm. Các ngành kiểm tra chất lượng, công thương, giám sát quản lý thực phẩm dược phẩm cần phải xử lý nghiêm khắc hành vi sản xuất tiêu thụ sử dụng nhãn hiệu chất phụ gia thực phẩm không đúng quy định, đôn đốc các doanh nghiệp đưa các thông tin trên nhãn hiệu thành nội dụng quan trọng trong kiểm tra nhập hàng và xuất hàng, không được xuất xưởng, tiêu thụ sản phẩm không phù hợp yêu cầu luật định. 2. Tăng cường giám sát quản lý việc sử dụng chất phụ gia thực phẩm. Đơn vị sản xuất kinh doanh thực phẩm và đơn vị phục vụ ăn uống cần phải nghiêm chỉnh chấp hành kiểm tra nhập hàng, chế độ ghi chép chất phụ gia thực phẩm, không được mua chất phụ gia thực phẩm nhãn mác không hợp tiêu chuẩn, nguồn gốc không rõ ràng, nghiêm túc tuân thủ quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn quy định liên quan, sử dụng số lượng hạn chế chất phụ gia thực phẩm. Các ngành quản lý giám sát cần tăng cường mức độ quản lý giám sát, nghiêm túc xử lý hành vi lạm dụng phạm vi, số lượng chất phụ gia thực phẩm. Bộ Y tế, Cục Giám sát quản lý thực phẩm dược phẩm cần phải nhanh chóng ban hành quy định sử dụng chất phụ gia thực phẩm trong dịch vụ ăn uống, quy định rõ việc sử dụng các loại sản phẩm có chất phụ gia thực phẩm, chỉ đạo các đơn vị phục vụ ăn uống tuân thủ các quy định về việc sử dụng chất phụ gia thực phẩm, không được tuyên truyền sai, đánh lừa người tiêu dùng. Cục giám sát thực phẩm dược phẩm cần phải đặc biệt tăng cường việc giám sát quản lý sử dụng chất phụ gia thực phẩm đối với đơn vị kinh doanh như gia vị lẩu, đồ uống tự chế, gia vị tự chế… 3. Hoàn thiện tiêu chuẩn chất phụ gia thực phẩm. Bộ Y tế cần phải nghiêm túc xét duyệt, đưa ra các tiêu chuẩn quốc gia về sản phẩm mới của chất phụ gia thực phẩm, trước thời điểm cuối năm 2011, cần phải đồng thời ban hành và công bố tiêu chuẩn an toàn thông thường của nguyên liệu trong chất phụ gia thực phẩm và tiêu chuẩn nhãn mác chất phụ gia thực phẩm. Đối với chất phụ gia thực phẩm tạm thời không có tiêu chuẩn nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức hữu quan có thể dựa vào những quy định liên quan xin tham chiếu các quy định của tổ chức quốc tế hoặc tiêu chuẩn nhà nước liên quan, Bộ Y tế sẽ cùng những ngành có liên quan nhanh chóng quy định tiêu chuẩn chất phụ gia sản phẩm. Bộ Y tế, Tổng cục kiểm định chất lượng cần nhanh chóng công khai ban hành các biện pháp có liên quan,
III. Tăng cường xây dựng cơ chế lâu dài hiệu quả 1. Tăng cường giám sát dự báo. Tăng cường xây dựng mạng lưới giám sát các loại bệnh có nguồn gốc từ thực phẩm và giám sát thực phẩm ô nhiễm, tăng cường kiểm tra, giám sát chất phụ gia và chất phụ gia thực phẩm, kịp thời triển khai đánh giá mức độ an toàn, thực hiện phát hiện sớm, báo cáo sớm, dự phòng sớm, thiết thực phòng ngừa các nguy cơ mang tính hệ thống. Các khu vực, các ngành liên quan trong quá trình giám sát phát hiện các chất phụ gia khả nghi hoặc các chất phụ gia dễ bị lạm dụng, phải lập tức thông báo cho Bộ Vệ sinh. Bộ Vệ sinh kịp thời tổ chức nghiên cứu “danh sách đen” những chất phụ gia dễ bị lạm dụng và những chất phụ gia trái pháp luật để công bố với xã hội. 2. Tăng cường phối hợp điều tiết. Các khu vực, các ngành liên quan cần phối hợp điều tiết chặt chẽ, tăng cường phối hợp trong chấp hành pháp luật, quy phạm việc công bố thông tin. Phát hiện hành vi tiêu thụ sử dụng chất phụ gia và lạm dụng chất phụ gia trái pháp luật phải kịp thời báo tin cho các khu vực và cơ quan liên quan. Khu vực và các bộ ngành có liên quan sau khi nhận được tin báo, cần kịp thời sử dụng các biện pháp khống chế cần thiết theo quy định pháp luật, điều tra xử lý hành vi trái pháp luật. Bộ Vệ sinh cần có các biện pháp cụ thể để thông báo các quy định chi tiết và xây dựng cơ chế hiệp thương với các cơ quan có liên quan. 3. Tăng cường cam kết trung thực. Các cơ quan công nghiệp, thông tin, thương mại phải tăng cường quản lý các ngành sản xuất kinh doanh thực phẩm, thúc đẩy xây dựng hệ thống cam kết, triển khai hoạt động “cam kết trung thực, bảo đảm chất lượng, xây dựng tác phong mới” trong ngành thực phẩm, hướng dẫn các doanh nghiệp xây dựng quan niệm phát triển an toàn, kinh doanh trung thực. Trước thời hạn cuối năm 2011, các cơ quan giám sát xây dựng các cam kết về an toàn thực phẩm đối với mọi người kinh doanh sản xuất thực phẩm. Các tổ chức ngành nghề thực phẩm và chất phụ gia thực phẩm phải nghiêm túc xây dựng trách nhiệm tuân thủ pháp luật, tích cực tổ chức cho các doanh nghiệp triển khai hoạt động tự kiểm tra, tự sửa chữa và kiểm tra giám sát nội bộ, tăng cường kiểm tra giám sát và bồi dưỡng kiến thức ngành nghề, kịp thời phát hiện những vấn đề tồn tại của ngành và báo cáo với cơ quan giám sát, nếu không kịp thời phát hiện và báo cáo thì bị phê bình. 4. Tăng cường giám sát xã hội. Chính quyền địa phương các cấp phải xây dựng và kiện toàn chế độ thưởng trong an toàn vệ sinh thực phẩm, xây dựng các quỹ tiền thưởng, hoàn thiện cơ chế công tác, chỉ định trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn, thiết thực thực hiện công tác khen thưởng đối với người tố cáo vi phạm trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo, khuyến khích người trong chính đơn vị kinh doanh sản xuất đứng ra tố cáo hành vi vi phạm. Phải kết hợp với thực tế địa phương trong ban hành các biện pháp quản lý nhân viên đưa tin về vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng cường xây dựng đội ngũ nhân viên nhân viên thông tin về vệ sinh an toàn thực phẩm. Tích cực khuyến khích giám sát dư luận của báo chí, truyền thông, tích cực trong truy tìm vấn đề do báo chí tiết lộ, kịp thời trả lời những vấn đề mà xã hội quan tâm, công khai điều tra xử lý các vụ án liên quan tới vệ sinh an toàn thực phẩm. Đồng thời lên án những thông tin báo chí giả mạo, xử lý, truy cứu trách nhiệm những người tung tin xấu, tạo dư luận không tốt, gây hoang mang trong xã hội 5. Tăng cường tuyên truyền giáo dục phổ cập kiến thức khoa học. Các khu vực, các bộ ngành có liên quan cần thông qua các hình thức khác nhau, nỗ lực tuyên truyền các văn bản pháp luật có liên quan, các thông tin về tiêu chuẩn, các hành vi vi phạm pháp luật và các nguy hại trong sử dụng, lạm dụng chất phụ gia trong thực phẩm và các biện pháp xử lý trừng trị nghiêm khắc. Phải tuyên truyền đến các hộ nông dân, doanh nghiệp nông nghiệp, các tổ chức hợp tác kinh tế chuyên nghiệp của nông dân, các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm, các đơn vị kinh doanh thực phẩm, các đơn vị làm dịch vụ ăn uống và các nhân viên phục vụ trong ngành, thực hiện nhà nhà đều biết, những gì cần biết thì phải biết cặn kẽ. Các địa phương cần phải tiến hành tập trung giáo dục, tuyên truyền đối với phân xưởng nhỏ, người buôn bán nhỏ, quán ăn nhỏ, triển khai giáo dục theo phương thức án lệ cảnh báo để những đối tượng có liên quan có thể tìm hiểu về các quy phạm pháp luật các chính sách liên quan, tự giác điều chỉnh các hành vi sản xuất, kinh doanh. IV. Nghiêm túc thực hiện trách nhiệm các bên. 1. Doanh nghiệp cần phải cam kết thực hiện trách nhiệm vệ sinh an toàn thực phẩm. Người kinh doanh sản xuất thực phẩm chịu trách nhiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật, nghiêm chính thực hiện chế độ khống chế chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm như: chấp hành công tác kiểm nghiệm chứng nhận hàng hoá, trung tâm tiêu thụ hàng hoá, khống chế, thu hồi sản phẩm, hạn chế sử dụng các chất phụ gia, quy phạm hành vi sử dụng chất phụ gia, kịp thời điều tra, phát hiện các nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm. Cần phải xây dựng chế độ trách nhiệm trong khống chế chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, xác định rõ người chịu trách nhiệm chính của doanh nghiệp là người chịu trách nhiệm đầu tiên trong việc sử dụng và lạm dụng chất phụ gia thực phẩm, nhân viên chịu trách nhiệm mua nguyên liệu và phụ liệu sản xuất là người chịu trách nhiệm trực tiếp và cần phải ký biên bản trách nhiệm riêng, đối với người chịu trách nhiệm đầu tiên ở đơn vị có hành vi vi phạm pháp luật về sử dụng chất phụ gia, người chịu trách nhiệm trực tiếp phát hiện đơn vị mua hoặc sử dụng chất phụ gia mà không kịp thời báo cáo với cơ quan quản lý, người chịu trách nhiệm đầu tiên và người chịu trách nhiệm trực tiếp cần phải chịu trách nhiệm pháp luật. Những doanh nghiệp thực phẩm lớn cần xây dựng cơ quan quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm, xác định rõ các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nếu bất kỳ sản phẩm nào của công ty có vấn đề, cần tạm thời dừng tiêu thụ các sản phẩm cùng loại và công bố với xã hội, sau khi đã được phê chuẩn chứng nhận hợp vệ sinh mới tiếp tục được tiêu thụ. 2. Tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương. Thống nhất trách nhiệm, lãnh đạo hành chính trong công tác quản lý việc sử dụng và lạm dụng chất phụ gia trong thực phẩm của chính quyền địa phương từ cấp huyện trở lên, coi công tác vệ sinh an toàn thực phẩm là trọng điểm, người chịu trách nhiệm chính phải trực tiếp nắm rõ, những lãnh đạo được phân quyền phải trực tiếp chịu trách nhiệm. Phải ban hành kế hoạch công tác hàng năm và tích cực tổ chức thực hiện, thiết thực đẩy mạnh nhân lực, vật lực và đầu tư kinh phí, bảo đảm nhu cầu cho công tác quản lý giám sát. 3. Nghiêm khắc thực hiện trách nhiệm của các bộ ngành. Các bộ ngành có liên quan cần tích cực quản lý giám sát và phụ trách quản lý ngành đối với vệ sinh an toàn thực phẩm, kịp thời xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; xây dựng thực thi chế độ cương vị trách nhiệm, quy định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm giám sát quản lý trên cương vị quản lý các cấp và chuyển sang cơ quan giám sát quản lý cùng cấp; thiết thực tăng cường xây dựng đội ngũ thi hành pháp luật trong giám sát quản lý của hệ thống này, nâng cao tố chất, tăng cường hiểu biết về trách nhiệm quản lý giám sát, nâng cao năng lực quản lý giám sát khoa học và làm việc theo pháp luật. Các cơ quan tài chính phải tăng cường mức độ hỗ trợ cho công tác giám sát quản lý đối với hành vi sử dụng chất phụ gia và sử dụng chất phụ gia thực phẩm trái pháp luật. Các cơ quan khoa học kỹ thuật phải tổ chức tăng cường hoạt động khoa học kỹ thuật có liên quan, ưu tiên hỗ trợ nghiên cứu kỹ thuật kiểm nghiệm nhanh chất phụ gia trái pháp luật và tiêu chuẩn các chất phụ gia trong thực phẩm. 4. Tăng cường mức độ truy cứu trách nhiệm. Các cơ quan quản lý giám sát phải tăng cường mức độ truy cứu trách nhiệm, đối với hành vi rời bỏ cương vị công tác, không làm hết trách nhiệm trong quản lý phải truy cứu trách nhiệm kỷ luật theo quy định pháp luật, đối với khu vực hành chính trong một thời gian dài hoặc phạm vi rộng xuất hiện hành vi sử dụng chất phụ gia trái pháp luật mà chưa được xử lý kịp thời và hiệu quả, hoặc trong khu vực hành chính có các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm quy mô lớn xuất hiện hành vi sử dụng chất phụ gia trái pháp luật cần phải nghiêm túc truy cứu trách nhiệm của chính quyền địa phương và trách nhiệm của người liên quan. Đối với người quản lý có thẩm quyền mà thực hiện hành vi giám sát không tuân thủ quy định hoặc trình tự của pháp luật, cần phải nghiêm túc truy cứu trách nhiệm; nếu tình tiết nghiêm trọng, sẽ bị buộc thôi việc theo quy định kỷ luật và quy định pháp luật; nếu có dấu hiệu phạm tội trên cương vị công tác sẽ chuyển cho cơ quan tư pháp truy cứu trách nhiệm hình sự có liên quan. Văn phòng Quốc vụ viện Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Ngày 20 tháng 4 năm 2011
Bộ Vệ sinh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cục Quản lý dược phẩm quốc gia
Phụ lục: Danh mục các loại thuốc cấm sử dụng trong thức ăn gia súc và nước uống của động vật I. Thuốc kích thích tuyến thượng thận 1. Clenbuterol Hydrochloride: trang 605 tập 2 Từ điển Dược Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2000 (dưới đây gọi tắt là Dược điển). b 2 Thuốc kích thích tuyến thượng thận 2. Salbutamol: trang 316 tập 2 Dược điển năm 2000. b 2 Thuốc kích thích tuyến thượng thận 3. Salbutamol Sulfate: trang 870 tập 2 Dược điển năm 2000. b 2 Thuốc kích thích tuyến thượng thận 4. Ractopamine: Chất kích thích nhóm B, Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ .(FDA) đã phê chuẩn, Trung Quốc chưa phê chuẩn. 5. Dopamine Hydrochloride: trang 591 tập 2 Dược điển năm 2000. Thuốc kích thích Hydrochloride. 6. Cimaterol: Sản phẩm do công ty Cyanamid của Mỹ (American Cyanamid Company) phát hành, chất kích thích nhóm B, FDA chưa phê chuẩn. 7. Terbutaline Sulfate: trang 890 tập 2 Dược điển năm 2000. b 2 Thuốc kích thích tuyến thượng thận II. Hooc- môn sinh dục 8. Diethylstibestrol: trang 42 tập 2 Dược điển năm 2000. Các loại thuốc kích thích giống cái. 9. Estradiol: trang 1005 tập 2 Dược điển năm 2000. Các loại thuốc kích thích giống cái. 10. Estradiol Valerate: trang 124 tập 2 Dược điển năm 2000. Các loại thuốc kích thích giống cái. 11. Estradiol Benzoate: trang 369 tập 2 Dược điển năm 2000. Các loại thuốc kích thích giống cái. Trang 109 tập 1 Từ điển Thuốc Thú y Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa xuất bản năm 2000. Các loại thuốc kích thích giống cái. Dùng để thúc đẩy quá trình phát dục không rõ ở động vật và để sổ thai chết lưu. 12. Chlorotrianisene: trang 919 tập 2 Dược điển năm 2000. 13. Ethinylestradiol: trang 422 tập 2 Dược điển năm 2000. 14. Quinestrol: trang 424 tập 2 Dược điển năm 2000. 15. Chlormadinone acetate: trang 1037 tập 2 Dược điển năm 2000. 16. Levonorgestrel: trang 107 tập 2 Dược điển năm 2000. 17. Norethisterone: trang 420 tập 2 Dược điển năm 2000. 18. Chorionic Gonadotrophin: Dược điển năm 2000 tập 2, trang 534. Thuốc tăng hoóc môn sinh sản. Từ điển Thuốc Thú ý năm 2000, tập 1, trang 146. Loại thuốc hoóc môn. Dùng để khắc phục các trở ngại về chức năng sinh sản, đẻ non và u nang buồng trứng… 19. Kích thích tăng trưởng noãn bào Menotropins: Dược điển năm 2000, tập 2, trang 321. Loại thuốc tăng hoóc môn sinh sản. III. Hoóc môn đồng hoá protein 20. Iodinated Casein: Loại hoóc môn đồng hoá protein, là chất của tuyến giáp, có tác dụng sinh lý như tuyến giáp. 21. Nandrolone Phenylpropionate: Dược điển năm 2000 tập 2, trang 365. IV. Thuốc thần kinh 22. Chlorpromazine Hydrochloride: trang 676 tập 2 Dược điển năm 2000. Thuốc chữa bệnh thần kinh. Trang 177 tập 1 Từ điển thuốc thú y xuất bản năm 2000. Thuốc an thần. Dùng để tăng cường gây mê và sử dụng an thần động vật. 23. Promethazine Hydrochloride: trang 602 tập 2 sách thuốc năm 2000. Thuốc chống dị ứng. Dược điển thuốc thú y năm 2000, tập 1, trang 164, thuốc chống dị ứng. Dùng để chữa các bệnh dị ứng như: nổi mề đay hoặc bệnh huyết thanh. 24. Diazepam: trang 214 tập 2 sách thuốc năm 2000. Thuốc để chữa các bệnh hồi hộp, co giật. Từ điển thuốc thú y năm 2000, tập1, trang 61. Thuốc an thần, chống co giật. 25. Phenobarbital: trang 362 tập 2 sách thuốc năm 2000. Dược điển năm 2000, tập 2 trang 362, thuốc an thần gây ngủ, thuốc chống co giật. Từ điển thuốc năm 2000, tập 1 trang 103. Thuốc nhóm Barbital. Thuốc chống co giật do viêm não, uốn ván hoặc trúng độc gây nên. 26. Phenobarbital Sodium. Trang 105 tập 1 sách thuốc thú y xuất bản năm 2000. Thuốc nhóm Barbital. Thuốc chống co giật do viêm não, uốn ván hoặc trúng độc gây nên. 27. Barbital: trang 27 tập 1 sách thuốc thú y xuất bản năm 2000. Ức chế trung tâm và tăng cường giải nhiệt, giảm đau. 28. Amobarbital: trang 252 tập 2 sách thuốc năm 2000. Thuốc gây ngủ, chống co giật. 29. Amobarbital Sodium: trang 82 tập 1 sách thuốc thú y xuất bản năm 2000. Thuốc nhóm Barbital. Dùng để an thần, chống co giật và gây mê đối với động vật nhỏ. 30. Reserpine: trang 304 tập 2 sách thuốc năm 2000. Thuốc chống cao huyết áp. 31. Estazolam. 32. Meprobamate. 33. Midazolam. 34. Nitrazepam. 35. Oxazepam. 36. Pemoline. 37. Triazolam. 38. Zolpidem. 39. Các thuốc thần kinh do quốc gia khác quản lý. V. Các loại dư lượng thuốc kháng sinh 40: Dư lượng thuốc kháng sinh: Các chất này là 3 loại chất thải công nghiệp (thể khí, thể nước và cặn bã) sinh ra trong quá trình sản xuất các loại kháng sinh, do thành phần có chứa hàm lượng nhỏ kháng sinh, trong quá trình sử dụng thức ăn gia súc và chăn nuôi cũng có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng nhất định, nhưng nó là nguy cơ rất lớn đối với ngành nuôi trồng, một là dễ dẫn đến tính nhờn thuốc, hai là do chưa được kiểm nghiệm độ an toàn, do vậy vẫn tiềm ẩn các nguy cơ an toàn khác.
Bộ Nông nghiệp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa- công báo số 193 Để bảo đảm an toàn cho thức ăn của động vật, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, theo quy định của “Điều lệ Quản lý thuốc thú y, bộ đã ban hành “Danh mục thuốc thú y và hỗn hợp chất khác bị cấm sử dụng trong thức ăn của động vật” (Dưới đây gọi tắt là “Danh mục cấm”), nay công bố như sau: I. Dừng sản xuất các sản phẩm bào chế theo đơn tổng hợp (kết hợp giữa đông y và tây y), bài thuốc dân gian và các nguyên liệu thuốc thuộc nhóm sản phẩm có thứ tự từ 1- 18. Các sản phẩm đã thu hồi tiêu chuẩn địa phương, tiêu chuẩn ngành Bộ Nông nghiệp và tiêu chuẩn quốc gia về thuốc thú ý, huỷ bỏ tiêu chuẩn chất lượng, xoá bỏ số hiệu đăng ký sản phẩm, những thuốc thú y nhập khẩu đã được đăng ký ở nước ta, huỷ bỏ tiêu chuẩn chất lượng thuốc thú y nhập khẩu, thu hồi “giấy phép đăng ký nhập khẩu thuốc thú y”. II. Đến ngày 15 tháng 5 năm 2002, nghiêm cấm kinh doanh và sử dụng các sản phẩm bào chế theo đơn tổng hợp, bài thuốc dân gian và các nguyên liệu thuốc thuộc nhóm sản phẩm có thứ tự từ 1- 18 trong “Danh mục cấm”. III. Các nguyên liệu thuốc và sản phẩm bào chế theo đơn tổng hợp, bài thuốc dân gian thuộc nhóm sản phẩm có thứ tự từ 19- 21 trong “Danh mục cấm” sẽ không được đưa vào thức ăn chăn nuôi động vật với mục đích thúc đẩy tăng trưởng, nâng giá trị thức ăn gia súc. Danh mục thuốc thú y và hỗn hợp chất khác bị cấm sử dụng trong thức ăn động vật
Chú thích: Thực phẩm động vật là chỉ các loại động vật hoặc sản phẩm được cung cấp cho con người làm thực phẩm.
Bộ Nông nghiệp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa công bố ngày 9 tháng 4 năm 2002. Thông báo đặc biệt Số 1519 Để tăng cường giám sát quản lý an toàn chất lượng của thức ăn chăn nuôi và các khâu trong chăn nuôi, bảo đảm an toàn chất lượng thức ăn và sản phẩm chăn nuôi, theo các quy định có liên quan của “Điều lệ Quản lý thức ăn chăn nuôi và các chất phụ gia trong thức ăn chăn nuôi”, nghiêm cấm sử dụng chất Pheny lethano lamine A trong thức ăn chăn nuôi và đồ uống của động vật (Xem phụ lục). Các cơ quan quản lý thức ăn chăn nuôi gia súc tăng cường giám sát quản lý hàng ngày và đôn đốc giám sát, nghiêm túc tìm ra các hành vi vi phạm pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng chất phụ gia Pheny lethanolamine A sử dụng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi và nước uống động vật. Phụ lục: Các chất bị cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi và nước uống động vật (Ngày 27 tháng 12 năm 2010)
CÁC TIN KHÁC
|