Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản Thủy sản

Wednesday, Mar 10th

Cập nhật cuối:06:35:58 PM GMT

Tiêu điểm:
Bạn đang xem: Tin tức sự kiện

Tin tức - Sự kiện

2010 - Chất lượng nông sản và vấn đề an toàn thực phẩm là trọng tâm

Email In
altNói một cách hình ảnh, nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò phao cứu sinh cho nền kinh tế, năm qua vốn đầy rẫy khó khăn. Và vị thế nông nghiệp sẽ tiếp tục được nâng cao nếu giải quyết đúng vấn đề chất lượng nông sản. Như thông lệ, Tết đến, Bộ trưởng Cao Đức Phát lại trò chuyện cùng PV NNVN. 
 
KINH TẾ KHÓ KHĂN, NÔNG NGHIỆP CÀNG Ý NGHĨA

Thưa Bộ trưởng, các chuyên gia kinh tế cũng như các nhà xã hội học đều cho rằng nông nghiệp năm qua tiếp tục đóng vai trò phao cứu sinh cho nền kinh tế, ổn định xã hội nhờ những bước tăng trưởng vững chắc. Nói không quá, nhìn nhận 20 năm trở lại đây, người ta tổng kết cứ lúc nào kinh tế khó khăn nhất là bao giờ cũng trở về nông nghiệp, nghĩ đến nông nghiệp, nông thôn. Cảm nhận của Bộ trưởng về vấn đề này thế nào?

Trước hết, giá trị sản xuất NN của một nước có thể thấp nhưng luôn có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần ổn định xã hội; đến lãnh thổ.

Hội nghị cấp Bộ trưởng về vấn đề nông nghiệp, PTNT và xoá đói giảm nghèo mà chúng ta chủ trì năm qua tại Hà Nội thì tất cả các Bộ trưởng khối ASEAN đều thừa nhận điều đó. Trong lúc kinh tế khó khăn, phát triển nông nghiệp, nông thôn rất quan trọng. Thực tiễn 2 năm gần đây minh chứng rất rõ. Kinh tế chung khó khăn nhưng đời sống bà con nông dân tiếp tục được cải thiện là nhờ tăng trưởng nông nghiệp. Nông nghiệp đảm bảo lương thực, thực phẩm với giá cả ổn định cho các đô thị. Nông thôn tiếp tục là nơi cưu mang, tạo việc làm ổn định cho một bộ phận lao động gặp khó khăn về việc làm. Nói phao cứu sinh cho nền kinh tế là một cách nói, và có căn cứ để nói.

Để nông nghiệp phát triển ổn định, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách tốt hơn nâng cao sức sáng tạo của nông dân. Cán bộ, đảng viên nhận thức đúng chính sách đổi mới để thúc đẩy kinh tế nông thôn. 20 năm qua ta có đường lối, có cơ chế chính sách tốt; một mặt trong Đảng, Chính phủ rất quyết tâm. Tất cả đã làm thay đổi nhận thức, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong mặt trận nông nghiệp.

Về nhận thức, cơ bản chúng ta đã giải quyết xong rồi đấy chứ, thưa Bộ trưởng?

Như Nghị quyết TW 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, mặc dù trong Đảng đã được xác định, nhưng một bộ phận đảng viên vẫn chưa thông đâu. Vấn đề nhận thức là quá trình rồi mới biến thành hành động cụ thể được.

Cả 2 năm 2008 và 2009 sản xuất nông nghiệp đều rất khó khăn nhưng theo Bộ trưởng năm nào khó khăn hơn?

Theo tôi 2009 là năm khó khăn hơn. 2008 rét hại đầu năm làm chết số lượng lớn gia súc, mạ, nhưng khi vượt qua nó lại là yếu tố thuận lợi cho SX lương thực, là năm được mùa lớn đã tạo tốc độ tăng trưởng rất cao cho toàn ngành. Xét ra năm 2008 khó khăn về thời tiết nhưng thuận lợi về thị trường. Năm 2009 thị trường khó hơn rất nhiều. Mà trong kinh tế thị trường thì thị trường là quyết định. Năm nay một mặt ta phải duy trì tốc độ tăng trưởng trên một cái nền năm 2008 có tốc độ tăng trưởng đạt rất cao. Trong khi đó xuất phát điểm năm 2009 rất thấp do vụ đông 2008 mất một nửa vì lũ lụt.

Giờ ngồi đánh giá lại, ấn tượng nhất nông nghiệp 2 năm qua của Bộ trưởng là gì?

Đó là sự ra đời của Nghị quyết TW 7 về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Đây là chính sách lớn rất quan trọng cho nông nghiệp, nông thôn giai đoạn hiện nay, tạo một triển vọng mới. Như chương trình mục tiêu quốc gia phát triển nông thôn mới; Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nhân lực cho nông thôn (1 triệu người); Nghị định về an ninh lương thực quốc gia... cùng một loạt chính sách lớn khác. Chính phủ chỉ đạo kịp thời ngành Ngân hàng ưu tiên cho vay kích cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn. Chính nỗ lực đó của Chính phủ và các Bộ, ngành và địa phương nên, cho dù mức tăng trưởng NN 2009 (3%) thấp hơn 2008 nhưng vẫn đạt mức cao, trong đó có những lĩnh vực tăng rất mạnh như SX XK cao su, thủy sản, lâm nghiệp...

Tổng kim ngạnh XK đạt 15,2 tỷ USD, giảm so năm trước 7,7% nhưng trong khó khăn chung đạt được mức đó là nỗ lực ghi nhận. Lúa gạo XK tới 6 triệu tấn, so năm trước chỉ 4,5 triệu tấn. Hầu hết các mặt hàng XK đều tăng lượng. Đáng tiếc vì giá nông sản thế giới giảm đã ảnh hưởng không nhỏ kim ngạch xuất khẩu.

Vâng, thật là tiếc, nhưng như Bộ trưởng nói, thị trường là chấp nhận cạnh tranh. Vậy lĩnh vực nào mà Bộ trưởng còn e ngại về năng lực cạnh tranh ?

Lúa gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, điều của ta có năng lực cạnh tranh khá cao dù đương nhiên còn phải phấn đấu nhiều so với một số nước SX lớn. Lợi thế cạnh tranh được tạo ra bởi lợi thế so sánh do điều kiện thiên nhiên đem lại. Và thứ đến do nỗ lực về nhiều mặt của quốc gia. Chúng ta thì mới ở giai đoạn đầu phát triển theo định hướng kinh tế thị trường nên không tránh khỏi những tồn tại về các yếu tố trong lợi thế so sánh.

Chúng ta còn nhiều việc phải làm để đảm bảo phát triển tối ưu. Như lúa gạo cần phải cải thiện bộ giống, quy trình canh tác, công tác chế biến bảo quản, hệ thống cơ sở hạ tầng kho, bến cảng, vận tải, kể cả cơ chế chính sách, nguồn nhân lực... Vấn đề cạnh tranh, thẳng thắn nhìn nhận nhiều ngành hàng của ta còn yếu, trong đó ngành tôi lo nhất là chăn nuôi. Về thủy sản ta có nhiều lợi thế, tuy nhiên, nguy cơ phát triển kém bền vững đặc biệt vấn đề ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, chất lượng.

CHẤT LƯỢNG NÔNG SẢN LÀ TRỌNG TÂM

Năm qua có 2 vấn đề lớn ta bàn nhiều là vệ sinh an toàn thực phẩm và biến đổi khí hậu. Bộ trưởng cho biết một số nét chính giải quyết vấn đề này thế nào?

Phải nói đây là hai vấn đề rất lớn, rất quan trọng của đất nước. Ngay từ đầu năm, Bộ đã ban hành nhiều văn bản pháp quy với nội dung tập trung cải thiện hành lang pháp lý về các tiêu chuẩn, quy chuẩn quản lý chất lượng nông sản. Ở cấp Bộ đã thành lập được Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và Thủy sản.

Nghĩa là bước đầu chúng ta rạch ròi hơn; làm rõ hơn một bước trách nhiệm giữa Bộ NN-PTNT và Bộ khác về quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm. Bộ ra nhiều văn bản chỉ đạo các địa phương và trực tiếp triển khai nhiều lĩnh vực công tác liên quan, từ quy hoạch, áp dụng quy trình kỹ thuật, đặc biệt quy trình thực hành nông nghiệp tốt (gap), tạo ra sản phẩm chất lượng, an toàn trong rau quả, chè, chăn nuôi, thủy sản...

Thực hành nông nghiệp tốt bước đầu thành một phong trào, quản lý được vật tư đầu vào và sản phẩm đầu ra, kể cả tiêu thụ trong nước và XK. Chúng ta đang tập trung vào quản lý thuốc BVTV; quản lý chất lượng rau, thịt, cá, các mặt hàng thiết yếu có yếu tố nguy cơ cao và đã có bước chuyển biến. Bộ xác định tăng cường rất mạnh mẽ việc quản lý này trong năm 2010. Trong bối cảnh các nước dựng lên rất nhiều hàng rào chất lượng sản phẩm nhập khẩu, càng buộc chúng ta phải quản lý tốt hơn.

Còn biến đổi khí hậu, chúng ta đều biết đã ảnh hưởng cực kỳ to lớn đến các chiến lược và kế hoạch phát triển của toàn ngành. May mắn, liên quan đến biến đổi khí hậu, Việt Nam nhận được ủng hộ lớn của quốc tế. Năm qua tôi đã dẫn đoàn công tác của Liên hiệp quốc và Ngân hàng thế giới khảo sát vùng ĐBSCL, chúng tôi thảo luận trên thực địa tình hình biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến VN. Năm qua, một thứ trưởng của Bộ NN-PTNT được giao nhiệm vụ theo dõi, chỉ đạo về biến đổi khí hậu và thực tế anh dành gần như hết thời gian cho công việc khó khăn này.

Xin hỏi Bộ trưởng, năm 2010 trọng tâm của ngành NN-PTNT là lĩnh vực nào?

Chất lượng nông sản và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn là vấn đề trọng tâm.

Theo NNVN

 

Bác bỏ đề nghị lập Ủy ban quốc gia an toàn thực phẩm

Email In

Sáng nay đề nghị thành lập Ủy ban quốc gia về an toàn vệ sinh thực phẩm của Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã không nhận được sự đồng thuận của Thường vụ Quốc hội do lo ngại hiệu quả hoạt động thấp và trái với hiến pháp.
> Một lĩnh vực, ba bộ trưởng 'đá bóng'

Lý giải cho đề xuất trên, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu dẫn việc lập Ủy ban Dân số kế hoạch hóa gia đình trước đây: "Suốt 30 năm tỷ lệ sinh của chúng ta không giảm, năm 1990 số con trung bình của một phụ nữ tới 3,8. Nhưng 10 năm sau đó, khi có Ủy ban dân số kế hoạch hóa gia đình, con số này đã giảm xuống 2,1 đảm bảo quy mô dân số hợp lý".

Bộ trưởng nói thêm, trong điều kiện Việt Nam có tới 9,4 triệu hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông sản và tiểu thương kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ tại chợ, đường biên giới lại dài, nhập tiểu ngạch lớn thì việc lập một ủy ban quản lý nhà nước về lĩnh vực này là "hoàn toàn xứng đáng". Ông Triệu đề xuất ủy ban này sẽ trực thuộc Chính phủ, các bộ cử người tham gia phối hợp.

"Thành lập Ủy ban quốc gia sẽ giảm được sự chồng chéo dẫn đến khó quy trách nhiệm như lâu nay, việc quản lý điều hành sẽ mạch lạc hơn. Có việc gì, Quốc hội chỉ cần gõ ủy ban, tránh phải gõ nhiều bộ, ít nhất như dự luật hiện nay là phải gõ 3 bộ Y tế, Nông nghiệp và Công thương", Bộ trưởng Y tế phân tích.

alt
Với việc kinh doanh nhỏ lẻ, Bộ Y tế rất khó quản lý về an toàn thực phẩm. Ảnh: Hoàng Hà.

Tuy nhiên, hầu hết ý kiến sáng nay đều không đồng tình với đề xuất của Bộ Y tế. Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Trần Đình Đàn lý giải: "Tôi từng tham gia Ủy ban dân số kế hoạch hóa gia đình, Ủy ban bảo vệ trẻ em ở địa phương, nhưng thấy hiệu quả hoạt động rất kém".

Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh Lê Quang Bình bổ sung: "Nhiều lãnh đạo phàn nàn không biết tham gia bao nhiêu ủy ban, ban chỉ đạo vì hiếm khi nào đi họp, toàn giao cho văn phòng cơ quan. Khi chất vấn, chính Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu từng trả lời danh sách thành viên ủy ban toàn là thứ trưởng, nhưng nhìn xuống người đi họp toàn là vụ trưởng, vụ phó. Cơ chế phối hợp lỏng lẻo khiến hiệu quả của những ủy ban này không cao".

Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng, địa vị pháp lý của ủy ban quốc gia không rõ ràng. Bộ máy Chính phủ trước đây gồm bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban. Nhưng sau khi sửa hiến pháp năm 1992, ta chỉ giữ lại Ủy ban Dân tộc, Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng nhà nước là cơ quan ngang bộ, còn lại đưa các lĩnh vực quản lý nhà nước về bộ. Các ủy ban hiện nay do Chính phủ thành lập chủ yếu làm nhiệm vụ tư vấn, không tham gia quản lý nhà nước.

"Giờ lập Ủy ban quốc gia an toàn vệ sinh thực phẩm sẽ đi ngược lại chủ trương đang thực hiện. Mặt khác, quản lý an toàn thực phẩm là nhiệm vụ của nhiều bộ ngành, giờ nếu lập riêng một cơ quan sẽ gây xáo trộn", ông Lưu nói.

Từ lập luận trên, Thường vụ Quốc hội nhất trí với phương án dự luật an toàn vệ sinh thực phẩm chỉ quy định mang tính nguyên tắc về trách nhiệm của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp trong quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm. Bộ Công thương có trách nhiệm phối hợp, chủ trì trong công tác phòng chống thực phẩm giả, gian dối thương mại trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Những vấn đề còn sự giao thoa, chồng lấn giữa các bộ thì giao Chính phủ quy định.

Dự luật này sẽ được hoàn thiện và có thể được thông qua trong kỳ họp Quốc hội tháng 5 tới.

Trong 3 tháng qua, các cơ quan chức năng tại Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng...liên tiếp phát hiện các vụ mỡ bẩn, nước tương bẩn, hạt dưa, ớt bột nhiễm chất độc hại. Gần đây nhất, xét nghiệm 19 mẫu cháo dinh dưỡng trên thị trường, Thanh tra Sở Y tế TP HCM phát hiện 4 mẫu chứa hóa chất ngoài danh mục cho phép.

8 bộ đang tham gia quản lý an toàn thực phẩm

Theo nghị định 163 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm thì quản lý nhà nước được phân công cho 8 bộ. Nghị định 79 quy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm thì phân công cho 5 bộ. Chính vì vậy, theo Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường, trong nhiều công đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn có sự chồng chéo trong quản lý nhà nước, khi xảy ra sự việc khó xác định trách nhiệm của các bộ liên quan.

 Theo VNExpress


 

Xuất khẩu thủy sản sang Mỹ: Rắc rối từ tên gọi

Email In

altHầu hết các doanh nghiệp thủy sản nước ta chỉ cần bán được sản phẩm cho các đối tác ở Mỹ, mà không quan tâm đến việc sau đó sản phẩm đến với người tiêu dùng với nhãn mác nào.

 


Trong khi thị trường Mỹ vốn rất đa dạng và đôi khi xảy ra những việc rất kỳ cục, chỉ riêng việc đặt tên cho cá tra, cá basa cũng đã gây rất nhiều phiền nhiễu cho xuất khẩu thủy sản của nước ta.

Trong cuộc gặp gỡ với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam giữa tháng 12/2009, ông John Connelly, Chủ tịch Hiệp hội Thuỷ sản Mỹ (NFI) đã kiến nghị Vasep nên tiến hành nghiên cứu, hãy đưa ra tên chung mà thị trường Mỹ ưa thích nhất để áp dụng chung cho các sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam xuất vào Mỹ.
Những rủi ro khó lường
Mỹ là  một thị trường rất đa dạng, có rất nhiều sự dị biệt so với thị trường chung trên thế giới. Năm 2006, người nuôi tôm hùm ở bang Maine, Đông Bắc nước Mỹ, từng kiên quyết ngăn không cho các nhà hàng dùng chữ “tôm hùm langostino” (hay tôm hùm nhỏ) để gọi một loại tôm từ Chile. Thế là con tôm hùm của Chile khi sang đến Mỹ bị buộc phải gọi tên là con “cua”!
Xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam vào Mỹ hiện nay vẫn đang phấp phỏng chờ cơ quan chức năng của Mỹ kết luận xem sản phẩm này có phải là cá  da trơn hay không. Bộ Nông nghiệp Mỹ thì cố  tình thúc cơ quan chức năng phải gọi những loài cá này là cá da trơn. Mặc dù 7 năm trước, chính Bộ Nông nghiệp Mỹ lại yêu cầu Quốc hội nước này ban hành luật cấm sản phẩm cá nhập từ Việt Nam được gắn nhãn “cá da trơn”.
Tại sao lại có chuyện oái ăm như vậy? Vì cá da trơn ở Mỹ được bán rất đắt, trên 25 USD/kg. Năm 2002 trở về trước, cá tra, cá basa vào thị trường Mỹ, được thương lái Mỹ gắn nhãn cá da trơn, nhưng giá bán lại rẻ hơn nhiều. Người dân Mỹ rất ưa chuộng sản phẩm cá tra, basa của Việt Nam vì ngon không kém các loại cá da trơn của Mỹ, mà giá lại rẻ chỉ bằng 1/5 lần.
Vì lo cá của Việt Nam “đánh bạt” cá da trơn Mỹ, nên Bộ Nông nghiệp Mỹ yêu cầu không cho phép gọi cá này là cá da trơn.
Tuy nhiên, mặc dù thành công trong việc ngăn cản cá tra Việt Nam được đóng nhãn cá da trơn, người nuôi cá ở Mỹ đã không thể ngăn cản loại cá từ Việt Nam này xuất hiện trong bữa ăn của người dân nước này. Theo hãng nghiên cứu thị trường Informa Economics, năm 2000 Mỹ chỉ nhập khẩu 10,7 triệu USD cá tra, basa từ Việt Nam. Đến năm 2008 đã tăng lên đến 77 triệu USD.
Người nuôi cá da trơn Mỹ cho rằng loại cá thịt trắng nhập từ châu Á đang đe doạ ngành công nghiệp nuôi cá da trơn trị giá 400 triệu USD của Mỹ. Chính vì lo ngại, nước Mỹ đưa ra đạo luật chống bán phá giá, áp ngưỡng giá sàn đối với chủng loại cá da trơn. Bộ Nông nghiệp Mỹ vẫn tìm mọi cách ngăn cản cá của Việt Nam, bằng hành động ngược với trước kia, là đòi xếp cá của nước ta vào nhóm cá da trơn để áp thuế chống bán phá giá.
Tuy nhiên, trước khi trách người Mỹ, các doanh nghiệp thủy sản nước ta nên tự trách mình. Hầu hết các doanh nghiệp chỉ cần bán được sản phẩm cho các đối tác ở Mỹ, không cần quan tâm sản phẩm đến với người tiêu dùng Mỹ với nhãn mác, tên gọi nào. Bởi vậy, phần lớn thủy sản Việt Nam được lưu thông trên thị trường Mỹ không mang nhãn mác của Việt Nam.
Ông Nguyễn Trường Thịnh, một Việt kiều định cư ở Mỹ, hiện đang kinh doanh cá cơm khô cho biết: “tại Mỹ, cá cơm khô chủ yếu tiêu thụ tại các hệ thống siêu thị của cộng đồng người đến từ châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc. Những lần tiếp cận thị trường, mỗi khi nhìn thấy cá cơm khô hay những loại cá khô khác, lòng tôi rất xót xa, thương cho cá Việt Nam. Vì tôi biết chắc những loài cá ấy có xuất từ Việt Nam, nhưng bao bì thì không phải của Việt  Nam”.
Sản phẩm phải có tên
Theo ông Thịnh, những nhược điểm hiện tại của các doanh nghiệp xuất khẩu cá khô  của Việt Nam là, kỹ thuật in ấn bao bì quá kém, so với hàng hóa tại thị trường Mỹ dưới bao bì của các nước khác ở Đông Nam Á. Các doanh nghiệp ở Việt Nam chưa thấy hết tầm quan trọng của marketing, chưa có kế hoạch đầu tư đường dài khi tạo thị trường mới, chỉ chú trọng vào những lợi nhuận trước mắt mà không có kế hoạch lâu dài. Rất nhiều doanh nghiệp chưa nhìn thấy sự quan trọng của thương hiệu trong kinh doanh, không ít doanh nghiệp đã dùng giải pháp đổi tên nhãn mác, tên sản phẩm hay tên công ty mỗi khi họ bị phát hiện những hành vi phạm lỗi.
Ông Thịnh cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm về thị trường, thị hiếu tiêu dùng tại Mỹ. Mỗi cộng dồng dân cư ở Mỹ có những sở thích và thói quen riêng trong tiêu dùng. Bởi vậy, khi xuất hàng vào Mỹ, cần phải uyển chuyển theo nhu cầu riêng của từng vùng, chứ không thể bán hàng theo thói quen cố hữu.
Nguyên tắc của thị trường thực phẩm tiêu dùng tại Mỹ là người tiêu dùng mua những món họ thích chứ không phải mua thứ họ cần. Với một xã hội dư thừa về thực phẩm, bao bì bắt mắt, nhãn hiệu sản phẩm, tên gọi sản phẩm vô cùng quan trọng.
Ông John Connelly khuyến cáo, tên các loài cá khác nhau có thể khiến người tiêu dùng Mỹ nhầm lẫn vì có đa dạng cách ghi tên sản phẩm trên nhãn mác. Bởi vậy, Vasep nên tiến hành nghiên cứu, hãy đưa ra tên chung mà thị trường Mỹ ưa thích nhất để áp dụng chung cho các sản phẩm cá tra, cá basa xuất khẩu vào Mỹ.
Theo ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó chủ tịch Vasep, hiện nay các nhà nhập khẩu ở bờ Tây nước Mỹ thích sử dùng chữ Swai, trong khi các nhà ở bờ Đông lại thích dùng tên Pangasius đối với cá tra. Bởi vậy, cá tra Việt Nam thường được  doanh nghiệp ở phía Tây nước Mỹ đóng nhãn mác với tên sản phẩm Swai. Còn phía Đông lại dán nhãn cá tra Pangasius.
Thực tế này xuất phát từ thói quen của người tiêu dùng, nhưng đang ảnh hưởng đến nỗ lực trong quảng bá sản phẩm của Việt Nam ở  Mỹ, về lâu dài có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Trong thời gian tới, Vasep và NFI sẽ hợp tác với nhau, sớm tiến hành nghiên cứu về thị hiếu tiêu dùng sản phẩm này ở Mỹ, để thống nhất tên thương mại chung cho cá tra, cá basa Việt  Nam, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp cả hai nước.

Nguồn: vneconomy

NAFIQAD tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2009

Email In

altNgày 15/12/2009, Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản đã tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác năm 2009 - Kế hoạch côngtác năm 2010. Tham dự Hội nghị có Thứ trưởng Lương Lê Phương, các Cục, Vụ thuộc Bộ có quan hệ phối hợp công tác, đại diện lãnh đạo các Cơ quan Quản lý Chất  lượng NLTS Trung Bộ, Nam Bộ, Trung tâm vùng 1- 6 và toàn thể Lãnh đạo, cán bộ công nhân viên cơ quan Cục. Mở đầu Hội nghị, Phó Cục trưởng Phụ trách Nguyễn Như Tiệp đã đọc báo cáo kết quả công tác năm 2009 và kế hoạch công tác năm 2010.

Hơn 79 triệu USD phát triển chăn nuôi sạch

Email In
Dự án “Cạnh tranh ngành chăn nuôi và An toàn thực phẩm” sẽ giúp các hộ chăn nuôi nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Hướng dẫn thực hiện Quy chế chứng nhận thủy sản khai thác xuất khẩu vào thị trường Châu Âu

Email In

titleĐể thực hiện quy định của Liên minh châu Âu (EU) về chống đánh bắt cá bất hợp pháp (IUU), Ngày 4/12/2009, Bộ  trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có Quyết định số 3477/QĐ-BNN-KTBVNL về việc ban hành Quy chế chứng nhận thuỷ sản khai thác xuất khẩu vào thị trường Châu Âu (gọi tắt là Quy chế 3477).

Xác định nguyên nhân lây nhiễm listeria monocytogenes trong sản xuất cá tra đông lạnh

Email In

titleTrong thời gian vừa qua, trước tình hình số lượng các mẫu cá tra đông lạnh bị phát hiện nhiễm Listeria monocytogenes ngày càng gia tăng, thực hiện chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) đã có Quyết định thành lập nhóm công tác chủ trì  thực hiện đề tài khoa học cấp cơ sở "Xác định nguyên nhân lây nhiễm và đề xuất giải pháp kiểm soát mối nguy Listeria monocytogenes trong sản xuất sản phẩm cá tra đông lạnh".

Kết luận tại cuộc họp bàn biện pháp xử lý nhiễm cadimi trong nhuyễn thể 2 mảnh vỏ

Email In

titleNgày 20/10/2009, tại thành phố Hồ Chí Minh, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản đã tổ chức cuộc họp bàn biện pháp xử lý vấn đề nhiễm cadimi (Cd) trong nhuyễn thể hai mảnh vỏ (NT2MV) tại Bình Thuận và Kiên Giang. Cuộchọp có sự tham gia của Lãnh đạo Cục, đạidiện VASEP, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản Bình Thuận, Kiên Giang, các Trung tâm Chất lượng nông lâm thủy sản vùng 4, vùng 6, Viện Hảidương học, Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II và một số doanh nghiệp chế biến NT2MV.

Các đại biểu tham dự đã tập trung thảo luận,nhận định về nguyên nhân dư lượng Cd trong sò điệp, sò lông vượt giới hạn tốiđa cho phép và đề xuất một số biện pháp triển khai trong thời gian tới.

Chi tiết Thông báo kết luận cuộc họp tại đây

JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL